Thứ Tư, 5 tháng 1, 2022

KHAO THỈNH SƠN TRANG

 Sắc cẩn thỉnh Thượng Ngàn tiên chúa.

Quyền bà cai quản các chúng Sơn Trang

Trên sơn lâm thổ mán thổ mường 

Các trang trại châu lang các bộ. 


Đã nức tiếng miền Đồng Đăng cao cả

Lạng Sơn cảnh lạ đất Trang Châu

Trên sơn lâm thời cảnh thú nhiệm màu

Thượng ngao du khắp hết rừng xanh núi đỏ.


Dù dong chơi trang đài điện ngọc

Hay vui về am cỏ lều tranh

Nay đệ tử có việc thỉnh mời

Bà Mường Chúa Mán cưỡi mây ngự về.


Sắc cẩn thỉnh Sơn Trang Chưởng Quản

Danh hiệu là Lê Mại Đại Vương

Hiển thánh tích đất Đông Quang Tổ Mường.

Giáng Việt Quốc xưng Bạch Anh công chúa.


Chúa vốn dòng con vua Đế Thích

Từng dạo chơi trốn Ngư Phủ Đào Lan

Cửu Thiên giới quản cõi Thượng Ngàn

Con Bạch tượng chín ngà chầu ngự.


Bộ tiên nàng xiêm y tha thướt

Liền điểm trang tỏ hợp liên tri

Dòng phương từ châu trang Quan Hỏa

Ca đúng đỉnh giọng mường tiếng mán.


Tiếng danh vang ba ngàn thế giới

Dậy Nam Thiên cả tám cõi khấu đầu

Trên Sơn Lâm thời phụng sự nhà chầu

Trong bảo điện ngự ngôi cao lồ lộ.


Quyền bà cai các sơn thần ma xó

Cả các hàng quan tướng hổ lang

Bát bộ sơn trang ngự trong đền sáng rực

Uy danh bà cả Nam Thiên lừng lẫy.


Cẩn thỉnh Sơn Lâm nga ỷ tu Mường

Vốn tích xưa tự thủa Hồng Bàng

Lưu truyền phụ đạo Âu Lạc quản cai

Dòng Vương tử quan lang định hiệu.


Nổi dấu thiêng Phong Châu, Bạch Hạc

Lưu truyền tam tịch chia ở các phương

Đất Vĩnh Yên là nơi phát tích

Hiển thánh tướng là chân nhân thần nữ.


Thời đặt ra tu luyện phép Mường

Đã đắc đạo thần thông linh nhiệm

Bài sai câu niệm bí mật càng ghê

Diệu cảm ứng thì muốn sao được vậy.


Này các rừng, các núi, các lũng, các hang

Đâu đâu cũng dậy phép sơn trang

Luyện binh bằng giấy luyện tướng bằng môi

Hô một tiếng cả núi rừng chuyển động.


Nay thỉnh mời Thiền Sư Diệu Tín

Cùng bà chúa Tàng Hình Diệu Nghĩa

Thổ Mán Mường sinh ra tài cán thần thông

Tướng hiển thân là ma thiêng nước độc.


Sắc tâu thỉnh Sơn Tinh Công Chúa

Bắc Lệ ngàn đắc địa anh linh

Dòng nối đời làm chúa rừng xanh

Truyền thánh tích tam tiên ngàn pháp nhiệm.


Pháp tổ phụ truyền cho học đạo

Sinh được một nàng học phép truyền cho

Thừa đế mệnh bộ châu trang cai quản

Hiển thần nữ Hồng Bàng Chân Nhân danh hiệu.


Cửa rừng cấm chúa bà ngồi tâu giộng

Danh bà là La Bình tiên nương

Niệm thần chú hái lá lám thuyền

Các bản làng ơn nhờ tiên thánh.


Ba ngôi tối linh quyền hành một xứ

Thành kim hữu sự thiết lập rừng cây

Đại tài hô gió gọi mưa

Độ Nam Việt đời đời hưng thịnh.


Các Trang, Trại, Bộ, Châu, Lang cải hiệu

Đồng quy dòng nhất tổ Thanh Sơn

Mán sơn đầu, Mán vẽ mình

Mường khuyên tai, Mường xỏ mũi

Chân quấn xà cạp, tay dao, tay kiếm.


Các thượng du Hoàng, Ma, Cao, Điếu

Tộc thổ ty Nông, Xá, Doãn, Miêu

Tám họ này thời tính ở cheo leo

Đỉnh xườn non, thâm sơn, cùng cốc.


Mường chiêm lao Đinh, Hà, Quách, Bạch

Bốn họ này tư tính thổ lang

Các bản mường có nhà sàn vách nứa

Ven sông suối, đảo hồ thạch động.


Nay thỉnh mời Bát Bộ Sơn Trang

Ở thôn An Bắc, ở làng Thọ Giang

Ở trong cửa đông sinh ra

Cha là Đỗ Đỗng, mẹ là Thị Tươi.


Anh em sinh được tám người

Tám tướng tám tài giỏi phép dụng binh

Tướng cả là tướng Đỗ Chinh

Tướng hai Đỗ Triệu công minh kia là


Tướng Hiệu là tướng thứ ba

Thứ tư Đỗ Trọng thực là đích danh

Thứ năm Đỗ Bích là danh

Đỗ Trương thứ sáu thông minh khác thường.


Thứ bảy hiệu là Đỗ Cường

Thứ tám Đỗ Dũng khác thường sinh ra

Tám tướng đủ phép tài ba

Thần thỗng dũng mãnh sơn tinh hàng đầu.


Thỉnh mời các bộ nàng tiên

Cùng là Mường Mán giáng đền hôm nay

Núi Dùm - Cô Cả thiêng thay

Anh linh tráng giáng về đây ngự đồng

Sơn trang vạn phép linh thông

Ngày nay tích thử Thanh-Đồng mời khuyên

Thành tâm vọng bái các Mường

Hầu bà Lê Mại Chúa Tiên trên ngàn

Thông tri các phép Sơn Trang

Sinh được hai nàng vạn phép muôn linh

Di sơn hoán cảnh mọi đồ

Giáng phù giáng chưởng thần thông đề huề

Cô Đôi - Bắc Lệ là tên

Đồng tôi chí thiết mời cô giáng về

Đồng Đăng nơi đó là quê

Trang Châu xứ thổ bốn bề phong quan

Tuyên Quang cảnh ấy thượng ngàn

Thành tâm bái thỉnh Cô Ba - Tam Kỳ

Nét ngài yểu điệu phương phi

Hình dong nhan sắc mọi bề thanh tân

Có khi biến hiện lên người

Hóa cô sơn nữ nói cười líu lô

Thình mời Cô Tứ - Ỷ La

Theo hầu Chúa Thượng quê nhà Thọ Giang

Khâm sai lệnh Mẫu giáng phàm

Các, lang, trang, trại tùy cô tòng quyền

Mường Ân - Mường Ái là tên

Tích xưa hiển hiện Thái Nguyên - Cao Băng

Thọ Xương Đỗ thị gia trang

Mời Cô Năm Thượng thần thông giáng đàn

Thần phù học phép Sơn Trang

Luyện bầu tiên dược linh đan hạt vàng

Thuốc thần trị bệnh trần gian

Lá rừng sắc cốt, nước khe luyện thành

Thỉnh mời Cô Sáu - Đồi Ngang

Cùng Cô Nàng Bảy - Đông Quang giáng trần

Phép nàng dũng mãnh như thần

Binh Mọi, Binh Xá cùng Binh thú hình

Nào là Hổ Báo Sơn Tinh

Nghe cô hạ lệnh kéo về Thanh Sơn

Mời Cô Nàng Tám - Cao Lan

Tính tình yểu điệu đoan trang thay là

Anh linh nức tiếng gần xa

Sơn dân Mường Thổ bản làng nhớ ơn

Thỉnh mời Nàng Chín - Sùng San

Khi về Ba Dội, khi sang Ninh Bình

Đức tài mọi vẻ mọi xinh

Cầm kỳ thi họa tinh thông mọi bề

Mẫu bà hết mực mến yêu

Mời Cô Nàng Mười quê nhà Đồng Đăng

Thanh tân lịch sự đàng hoàng

Hình dong tầm thước dịu dang nết na

Chiều hôm bóng đã xế tà

Thạch bàn cô ngự ca ngâm chơi bời

Líu lô hát tiếng đầy vơi

Tiếng Mường Quan Hỏa Sơn trang thú màu

Thỉnh Cô Mười Một - Hòa Bình

Thung Nai, Đà Bắc hữu tình danh lam

Nhà Mường lắm phép Sơn Trang

Tinh vi đẩu chuyển sơn thành thao binh

Thỉnh mời Nàng Út Sơn Tinh

Tàng hình bí mật hiện ra giữa rừng

Nửa đêm giờ tý canh ba

Truyền ra hiệu lệnh phương phương hiện hình

Mọi loài cầm thú sơn tinh

Sài Lang Hổ Báo cùng nhau quy chầu

Cưỡi lên Bạch Tượng Chín Ngà

Tay cung tay kiếm, lưng mang rượu bầu

Tướng trai đầu đội mũ nùng

Tướng gái đeo vòng mình thắt đai xanh

Xí xa xí xố gọi nhau

Bạn tiên hội họp quân cơ luận bàn

Lệnh tuyền thẳng tiến rừng sâu

Lên vùng biên giới dẹp loài xâm lăng


Hôm nay tiến lễ Sơn Trang

Kim ngân thoi núi cỗ bàn tiến dâng

Cơm lam gạo lốc thơm lừng

Ốc cua tôm cá giò nem đủ mùi

Măng chua khế thái hoa hồi

Trầu têm cánh phượng cô đồi chứng minh

Lòng thành tiến lễ sơn tinh

Mắm tôm cùng muối đậu xanh bỏ bồ

Ngô khoai vừng lạc cá khô

Mười hai gồng gánh các cô về rừng

Lòng thành tiến lễ thù ân

Các cô nhận đủ về rừng thảnh thơi

Chữ rằng thánh giáng lưu ân

Mười hai cô lưu lộc thiên xuân thọ trường

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2021

Thỉnh Nhạc Phủ Sơn Trang Thanh Sơn Phái Nghi Luyện Đại Khoa

 Hương phụng hiến cúng giàng Nhạc Phủ Sơn Trang chúng linh quang. Đệ tử kiền thành đô thần thượng hương nghênh thỉnh.

Phục dĩ. Điện đường kỳ khiết. Pháp duyên quang khải. Tịnh cúng phu trần lự bái biện dĩ trang nghiêm. Cung nghênh liệt vị Tiên Chủ Sơn Trang giáng hương duyên. Pháp tịch phu trần ngưỡng đạt quần tiên lai giáng cách. Nghi bằng pháp thủy tẩy dịch trần ai. Giáo hữu tịnh uế chân ngôn cẩn đương trì tụng.

Nhất bất thanh lương hàm tố nguyệt

Thanh sơn khê uyển lộ kim ba

Ngưỡng bằng bí điển diệu gia trì

Trích sái đàn tràng tất thanh tịnh.

Án. Bắc đế tra thiên thần na la địa tra xa ha. °°°


Cung văn. Nhiên hương tu trượng. Kích cổ tam thông. Giao thắng vô xú chi thanh lâm. Cảm động vô tư chi sơn nhac. Cung phàn hải ngạn chi nhân huân. Phả hiến Sơn Trang chư bộ chúng. Thánh đức long nhan. Thị hương cảm ứng. Đằng vân giá vũ. Xuất nhập tinh kỳ. Khả cách thần thông. Giáo hữu nhiên hương cẩn đương trì tụng.

Dục đath thập phương trình tố khổn

Tu bằng ngũ phận bảo hương truyền

Thanh Sơn thánh chúng tận giao chi

Nhất thiết chư ty phả cúng giàng.

Nam mô hương vân cái bồ tát ma ha tát. °°°

Cung văn. Thanh Sơn pháp môn. Cảnh sắc u nhàn. Nhạc động tụ linh. Kỳ hình vạn tượng. Đỉnh Thượng Cao Mường Sơn Triều. Quản chưởng sơn trang chư bộ chúng. Nhất niệm chí tâm. Chư linh động giám. Thánh nhãn phi dao tuất cập. Phàm trần hữu cảm giai thông. Xứ xứ sở cầu tất ứng.

Tư thần cẩn tấu vi. Việt Nam Quốc .......

Sinh cư Nam Việt chi mộ sơn môn. Ngương vọng Thánh Tiên nhi bảo hựu. Cẩn thủ kim thời thu thiết pháp đàn nhất duyên nhi tán. Sa môn Pháp sự tuân hành khoa phạm tuyên diễn nghi văn. Vọng tứ uy quang phù lâm pháp tịch. Giáo hữu triệu thỉnh chân ngôn cẩn đương trì tụng.

Dĩ thử limh thanh thân triệu thỉnh

Sơn Trang Tiên Chủ nguyện văn chi

Thượng thừa tam bảo lực gia trì

Nguyện tại kim thời lai giáng phó.

Nam mô bộ bộ đế lị già lị đá lị đát đá nga đá da. °°°

Thượng lại triệu thỉnh chân ngôn tuyên đương dĩ kính. Đệ tử chúng đẳng kiền thành chí tâm bái thỉnh.


Nhất tâm phụng thỉnh.

Nam Thiên đại nhạc.  Lăng Sương động giáng. Long vương ban Thần Mộc Tích Trượng bí thuật khai nhi cửu chuyển sơn thành. Thái Thượng truyền thụ  tu tiên pháp đạo. Thần thủ Tản Viên Sơn bảo dân hộ quốc.

Thần cung thỉnh. Nam Thiên Đại Nhạc Phủ Tản Viên Thánh Đế.  Đệ nhất bách thần.  Nam Thiên thánh tổ. Hựu thánh vương quốc hiển ứng vương. Sơn sơn đệ nhất đẳng Thượng Thần Tản Viên Sơn Thánh Quốc Chúa Nguyễn Tuấn Đại Vương. Ngọc bệ hạ.

Duy nguyện. Đại Việt tổ thần. Tản Viên quốc thủ. Thỉnh giáng ... linh từ cúng giàng. Hương hoa thỉnh.


Nhất tâm phụng thỉnh.

Nam Thiên dục tú. Sơn nhạc chung linh. Liểu liểu kỳ hình. Du du thực tướng. Thệ phát bá thanh xuân chi hạ. Thần Châu Trang bạch ngọc chi nhan. Tác uy thảo mộc giai hiệu sơn tinh luyện thành thánh tướng. Linh đan đăng tư phong phi vân biến thái. Cửu Trùng Thiên thường hành ngâm phượng khúc hồn ngưng bạch tuyết chi thi. Giáng hạ phàm gian cao ngự loan xa man trược thanh y chi sắc. Tính sính tình khang. Phương phi yểu điệu. Ngự tư dược tổng bộ bát thập nhất lâm san nhi hoa hiếm mỵ phân phương. Chức thừa quản chưởng tam thập lục động sơn trang phó hoài nhi nhất vĩ lăng. Xưng dương thánh tổ tích cổ pháp môn Thanh Sơn Nhất Phái. Không trì sính thanh sử danh vang tam thiên thế giới. Vị liệt đan đài lịch đại gia phong tứ phương cảm cách. Uy linh lẫm lẫm nhiên đàm âm nhi hồng trạch bảo trợ Quân vương an dân đức thịnh.

Cung thỉnh. Nhạc Tiên Thánh Mẫu Thượng Ngàn Lê Mại Đại Vương. Hiệu viết Bạch Anh quản chưởng Sơn Lâm công chúa. 

Duy nguyện. Thanh lâm thác tích. Nam nhạc giáng thần. Thình giáng ... linh từ cúng giàng . Hương hoa thỉnh.


Nhất tâm phụng thỉnh.

Cao Sơn Mường Triều. Thạch bàn lưỡng thánh. Nam Sơn thạch động tao luyện tâm thuật tàng hình. Thụ bí pháp đỉnh khai nhi cửu chuyển sơn thành. Trì mật chú phó phi phù ấn nhi ngu thông linh diệu. Đạo thuật cao minh. Linh thông Thiên Địa.

Cung thỉnh. Sơn lâm nga y tu Mường Diệu Tín Thiền Sư. Diệu nghĩa tàng hình. Sơn trang tiên chúa.

Duy nguyện. Thùa thạch bàn thanh sơn bích động nhi giáng hạ. Thỉnh giáng ... linh từ cúng giàng.  Hương hoa thỉnh.


Nhất tâm phụng thỉnh.

Thiên thủy đồng lưu. Cao Lũng Trang ứng hiện. Truyền thánh tích tam tiên tu pháp nhiệm. Tiên Lệ ngàn đắc địa. Sơn lưu Diệu Tín hiển chân nhân Hồng Bàng thần nữ. Khầm thừa đế mệnh chi quyền hành. Sắc thụ tổ sư chi giáo pháp. Quản tam thập lục bộ châu chi chúa tể.

Cung thỉnh. Lâm Cung Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Sơn tinh Mỵ Nương Quế Hoa La Bình Công Chúa.

Duy nguyện. Vi nữ vi nam. Nãi thánh nãi thần. Thỉnh giáng ... linh từ cúng giàng. Hương hoa thỉnh!


Nhất tâm phụng thỉnh.

Thánh Mẫu Đông Quang. Tuần Quán. Bắc Lệ. Đèo Kẻng. Suối Ngang. Suối Lân. Lục cung. Mỏ Ba. Đèo Dộ. Ba Nàng. Cà Phê. Tùng Hương. Voi Xô. Tộc Mọi. Vân Phong. Suối Mỡ. Tây Thiên. Tam Đảo. Nguyệt Hồ. Lâm Thao. Kim Giao. Xương Long. Núi Dùm. Cảnh Xanh. Ỷ La. Tam Cờ. Mỏ Than. Minh Lương. Móc Giàng. Cầu Má. Tả Van. Hàng Phố. Bồng Lai. Thiên Thai. Đông Sơn. Phong Sơn. Thác Bờ. Hang Miếng. Nga Sơn. Đền Rồng. Châu Hà. Chư Vị tiên chủ Sơn Trang. 

Cung thỉnh. Thượng Ngàn tam thập lục động Sơn Trang Tiên Chúa.

Duy nguyện. Chư từ ứng hiện. Đằng vân giá vũ. Thần kỳ xuất nhập. Thỉnh giáng ... linh từ cúng giàng. Hương hoa thỉnh!


Nhất tâm phụng thỉnh.

Xuất hồ cẩm nhập. Hồ tốn tam tâm. Võng cách uy hào. Sơn trang bát bộ. Phát tích Trang Châu Lạng Sơn chi xứ. Cư An Bắc Thọ Giang thôn chi địa. Định sinh Đỗ tộc Thọ gia hương. Quyền cai châu lũng thổ trang anh linh đức hiển thần thông. Thống lĩnh Sơn Tinh bộ chúng bát vạn hùng binh. Pháp chưởng tam ma kim cương đại đạo. Tài thao lược kiêm chi lục trí thần thông. Niệm bi chú nhi Thiên hôn Địa ám. Suy nghi phù nhi quỷ khốc thần kinh. Thượng ngàn sơn dã. Nùng dao sơn trại. Mường Mán cao lan. Thanh tân yểu điệu. Đoan tường hồ khảm ứng ly niệm niệm bất vong thực tố đồng đẳng hiển minh chi diệu lý chiêu trương động lĩnh ư huyền nghi. Xứ xứ viên thông. Phương phương ứng hiện.

Cung thỉnh. Tổ phụ Đỗ Đỗng. Tổ mẫu Thị tươi.

Tả thỉnh. Bát bộ sơn thần. Đỗ Chinh. Đỗ Triệu. Đỗ Hiệu. Đỗ Trọng. Đỗ Bích. Đỗ Trương. Đỗ Cường. Đỗ Dũng. Kim Cương thần tướng Sơn Tinh thánh chúng.

Hữu thỉnh. Thập nhị Sơn Tiên. Nàng Ân. Nàng Ái. Nàng Mại. Nàng Loan. Nàng Đào. Nàng Liễu. Nàng Cúc. Nàng Tần. Nàng Tùng. Nàng Hiển. Nàng Hiện. Nàng Duy. Sơn Trang tam thập lục tiên nương bộ chúng.

Phả cập. Nhạc Phủ Hoàng Triệu. Hoàng Quận. Khâm Sai công chúa. Long Triều. Hổ Phục. Sơn tướng. Sơn binh. Sơn tinh. Sơn thần. Vạn vạn hùng binh. Oai linh kỳ hình liệt vị.

Duy nguyện. Long xa di giá. Thỉnh giáng ... linh từ cúng giàng. Hương hoa thỉnh!


Phụng thỉnh. 

Thanh sơn dục tú. Trang trại châu lang. Thiên khai Hồng Lạc thượng quốc chi sơn hà. Thệ xuất Thổ Mường tiên long chi chủng tộc. Hoặc cư thanh muội sơn trung. Yêu đới đầu cân tam sắc Thái. Hoặc ngụ kỳ cùng thạch động. Tùng đơn cối tập nhất thanh hô. Di Lao. Chiêm Hóa. Lũng Thác. Dụng Quang. Văn thân ẩm thụy thủy lý tiềm hành xuỷen tai tất đầu dạ gian phi khứ. Âm thị. Dương thị tương giao trịch thủy chi tiền. Thổ tộc. Mán tộc công tụ huyền đang chi phố. Uy linh lẫm trược ư Đông Quang. Tuần Quán. Lục Ngạn. Tam Kỳ. Thắng tích trường lưu ư Bắc Lệ. Bảo Thắng. . Núi Dùm. Tam Đảo.

Thỉnh. Nam nhạc thượng du. Hoàng thị. Ma thị. Cao thị. Điếu thị. Nông thị. Xá thị. Doãn thị. Miêu thị. Bát tộc thổ ty Sơn Trang bộ chúng.

Phụng thỉnh.

Lam Hồng thắng cảnh. Linh Hải danh sơn. Thạch thành trịch lệ bảo cư quế lâm thưởng ngoạn. Ái địa quỳ châu khả cảnh nham lý chu toàn. Hoặc cư đảo động trường ninh hồng đới lục y thời huyên hoán. Hoặc tại thạch thành tịnh thủy thanh thái tử đại nhất tiêu giao. Quần cư xuyên thủy hồ đảo chi gian. Sương đài bích giản thốc tụ sơn lâm chi tế. Lưu thủy đào hoa tước diệp đề thi. Mường bộ sinh cư Đà Giang. Hồng giang. Lô Giang. Mã Giang.

Thỉnh. Trung Nam chiêm lao. Đinh thị. Hòa thị. Quách thị. Bạch thị. Tứ tính thổ Mương Sơn Trang bộ chúng. 

Duy nguyện. Thanh Sơn môn hộ. Thỉnh giáng ... linh từ cúng giàng. Hương hoa thỉnh!


Thượng lai nghênh thỉnh ký mộc quang lâm. An tọa chân ngôn cẩn đương trì tụng.

Sơn thánh tòng không lai giáng hạ.

Khoát nhiên tâm nguyện thính già đà.

Tùy phương ứng hiện biến quang minh.

Nguyện giáng pháp duyên an vị tọa.

Án. Tra ma la sa hạ.***


An tọa chân ngôn tuyên đương dĩ kính. Tọa khẩu thành tâm ư nhất nhất kinh trần tịnh cúng dĩ ban. Pháp sự tuân hành khoa phạm thượng hương phụng hiến. Thượng thừa Tam Bảo lực gia trì. Mật chú đà la ni cẩn đương trì tụng.

Biến thực chân ngôn.

Nam mô tát phạ đát tha nga đá phạ rô chỉ đế án tam bạt la tam bạt la hồng.***

Cam lộ thủy chân ngôn.

Nam mô tô rô bà gia đát tha nga đá da đát diệt tha án tô rô tô rô bát la tô rô bát la tô rô sa bà ha.***

Án tự nhiên trù thực. Vô lượng dược vô biên. Kỳ nguyện giai xung túc. Liệt vị bộ hạ chúa tướng. Các chúa sơn lâm. Bát bộ sơn trang. Thập nhị tiên nàng. Đồng lai ẩm thực.

Phả cúng giàng chân ngôn.

Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật la hộc.***

Án tông tông tông tông.*** 

Nam mô phả cúng giàng bồ tát ma ha tát.***


Thượng lai phụng hiến sơn trang dĩ kính. Đệ tử tuân hành tuyên diễn nghi văn kệ ngôn trịch luyện.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

Mẫu Thượng Ngàn - huyền tích và hiện thân qua các nhân vật cụ thể

 


Lâm Cung Thánh Mẫu (林宮聖母) hay Mẫu Thượng Ngàn hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một trong ba vị mẫu được thờ cúng tại đền phủ thờ mẫu của người Việt. Bà được hình tượng là một phụ nữ đẹp, phúc hậu và mang trang phục màu xanh khi được đặt ngang hàng cùng Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Thoải hoặc được thờ riêng trong một điện thờ Sơn Trang. Việc thờ phụng Mẫu Thượng Ngàn là một đặc điểm của tín ngưỡng gắn liền với tục thờ rừng núi của người Việt. Bà là nhân vật mang tính truyền thuyết và đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng hầu bóng tam phủ hay tứ phủ.
Tương truyền Mẫu Thượng Ngàn là con của Vua Trời Đế Thích, tính tình thẳng thắn cương trực nên bà được Thượng Đế giao cai quản núi rừng cõi trời Nam Giao. quyền hành các chúng sơn Thần. Khi giáng trần bà dạy người dân trồng, săn bắn, Bà hiển hóa bảo hộ muôn dân. Vì thế người việt nói chung và các dân tộc thiểu số miền núi nói riêng đều hết lòng tôn kính và lập đền thờ bà ở các cửa rừng và những nơi bà hiện thân.

Vào những buổi đầu dựng nước kỷ Hồng Bàng,  có một loài Mộc Tinh chuyên hại người. Sau khi bị Lạc Long Quân đánh đuổi thì Mộc Tinh chạy về hướng Tây Nam, tại đây nó vẫn giở trò cũ thường xuyên bắt dân trong vùng làm lễ tế người. Thấy vậy Mẫu Thượng Ngàn  đích thần hạ phàm tiêu diệt, đáng tiếc mỗi lần Mẫu Thượng Ngàn tìm đến thì Mộc Tinh đã kịp bỏ đi trước. Vậy nên lần này Thánh Mẫu bèn hóa thành một cô gái xinh đẹp để trở thành vật hiến tế hòng bắt được con quỷ này. Quả đúng như dự đoán Mộc Tinh đã xuất hiện dưới hình dạng một con hổ trắng. Nó vừa xông tới định ăn thịt con mồi thì bị Mẫu Thượng Ngàn chặt mất đầu nên hiện nguyên hình là một cái cây khô có cành lá làm từ xương và thịt người. Khi Thánh Mẫu định vung rìu đốn hạ cây thì Mộc Tinh liền vội vàng xin tha mạng. Nó hứa rằng từ nay sẽ không ăn thịt người nữa và tặng bà một hạt giống thần. Nó bảo chỉ cần trồng hạt giống thần kì này xuống đất thì sẽ mọc ra tất cả loại quả ngon hoa lạ trên đời này. Vừa dứt lời Mộc Tinh liền biến mất. Mẫu Thượng Ngàn bèn đem hạt giống này về trồng, sau một đêm nó lớn thành một cái cây to thật là to, ngọn cây cao tận trời xanh, cành lá xum xuê che phủ một góc trời. Mỗi ngày nó đều mọc ra hàng trăm thứ hoa quả khác nhau ăn mãi không hết. Bà đem những loại quả này giao cho trưởng làng để ông có thể chia cho gia đình những người đã bị Mộc Tinh làm hại. Ngờ đâu con gái trưởng làng lại là người tham lam quyết giữ hết những món ngon vật lạ kia cho riêng mình. Mẫu Thượng Ngàn biết chuyện giận lắm liền làm phép biến cô ta thành con ruồi để suốt phần đời còn lại chỉ có thể ăn đồ thừa của con người.

Hùng Vương thứ IX là một vị vua anh minh, thương dân như con nào ngờ trong một lần đi săn, ông vô tình bị Mộc Tinh ăn thịt. Nó nhân cơ hội này dùng phép hóa thành nhà vua để cai trị nước Văn Lang. Mẫu Thượng Ngàn biết chuyện này có một phần là lỗi của mình nên đã tự nguyện chịu tội. Vua Trời bèn đày nàng làm con gái Mộc Tinh để sửa sai. Khi sinh bà ra, hoàng hậu đau quá phải vịn vào cành quế mới sinh hạ được bà nên mới đặt tên cho bà là Quế Hoa công chúa. Lớn lên, Quế Hoa luôn nhớ thương mẹ nên đã đi vào rừng sâu để tìm dấu vết người mẹ hiền đã mất. Nàng được ông Bụt ban cho phép thuật nên đã cùng mười hai thị nữ ra sức tu tiên luyện đạo, cứu giúp dân lành. Lúc bấy giờ đất nước Văn Lang rơi vào cảnh loạn lạc thù trong giặc ngoài do cha bà thường xuyên gây chiến với các nước làng giềng, tìm thú vui từ việc ăn thịt những kẻ chống đối mình. Chiến thanh liên miên khiến máu chảy thành sông, xương chất cao như núi, lòng dân óan hận thấu tận trời cao còn những người ra sức can ngăn nhà vua đều bị ông giết hại cả. Công chúa Quế Hoa quyết định ra tay diệt trừ kẻ gây ra cảnh đau khổ lầm than này dù rằng người đó có là cha nàng. Trong một buổi tiệc của nhà vua và các Lạc tướng, Quế Hoa đã xin được cùng mười hai thị nữ đánh đàn nhảy múa góp vui cho mọi người. Điều đặc biệt là chiếc đàn của nàng chỉ có duy nhất một dây khiến mọi người xung quanh đều tò mò thích thú. Khi tiếng đàn của công chúa vừa cất lên thì ai nấy đều cảm thấy thư thái, mọi âu lo đều bị quên lãng, thời gian trôi qua nhanh lúc nào không hay. Tới đêm thứ ba khi tiếng đàn vừa dứt thì Hùng Vương đã hiện nguyên hình thành một con hổ khiến mọi người hoảng loạn bỏ chạy. Mộc Tinh liền xông về phía Quế Hoa định ăn thịt nàng nhưng lần này nó đã dừng lại ngay trước mặt nàng vì dù hổ dữ cũng không thể ăn thịt con mình. Công chúa làm phép hóa dây đàn thành một sợi xích lớn buộc quanh cổ con hổ rồi dẫn nó theo mình. Từ đó về sau Quế Hoa dạy người dân cách trồng trọt, làm nương rẫy, xây nhà, chăn nuôi và săn bắt thú dữ, còn mười hai thị nữ của bà thì trở thành các bà mụ chăm lo việc sanh đẻ của người dân để không ai phải chịu nỗi đau mất mẹ vì sanh khó giống như bà nữa. Riêng con hổ bà mang theo bên mình thì được bà dùng để trừng phạt lũ tội phạm gian ác đã làm hại dân lành. Khi nhân dân các bản mường đã có cuộc sống no ấm, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc. Từ đó về sau bà được người dân tôn thờ làm Bà Chúa Thượng Ngàn cai quản vùng rừng núi còn mười hai thị nữ trở thành Mười hai Bà Mụ cai quản việc sinh đẻ của trần gian.

Một lần khi đang đi dạo trong rừng, Mẫu Thượng Ngàn và mười hai bà mụ phát hiện thấy bên gốc cây có xác một đứa trẻ chỉ còn lại bộ xương khô. Tiếc thương vì cậu bé đã chết khi còn quá nhỏ nên Mẫu Thượng Ngàn đã dùng phép hòa lẫn xương cậu cùng gan hùm, tay gấu, ruột ngựa, mắt phượng, chân voi cùng quả tim của bà để hồi sinh cậu. Mẫu vốn không có con cái gì, lại thấy cậu bé lanh lợi nên đã quyết định nhận cậu làm con nuôi, đặt tên là Sơn Tinh, giao cai quản vùng núi Ba Vì. Một số dị bản đề cập rằng bà mất trong cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sau khi mất thì bà trở lại Thiên giới nhưng vì quá thương con nên bà đã xin thượng đế được phép trở lại trần gian. Ngọc Hoàng đồng ý bèn cho bà được đầu thai trở lại làm người tích đủ phước đức luân hồi thì mới có thể ở bên con trai mình lần nữa.

Sau khi tích đủ phước đức thì Ngọc Hoàng đã cho phép bà trở thành con gái của Sơn Tinh và Mỵ Nương Ngọc Hoa (chữ Hán: 媚娘玉花) trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh (Mỵ Nương là danh hiệu gọi con gái của Hùng Vương, tương tự như "Hoàng Nữ" hoặc Công Chúa"). Khi còn trẻ, Mẫu là một cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình. Sinh thời La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng. Trong địa hạt mà Tản Viên Sơn Thánh cai quản, ông đã dạy dân không thiếu điều gì, từ săn bắn thú dữ đến chăn nuôi gia súc, từ trồng cây ăn quả, trồng lúa nương đến việc đắp ruộng bậc thang, trồng lúa nước v.v. hay dựng nhà dựng cửa, hái cây thuốc chữa bệnh. Ông cũng thường cùng các vị sơn thần, tù trưởng luận đàm thế sự và bàn soạn công việc. Do luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Thánh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh. Còn bản thân nàng, chẳng những hòa hợp, ân cần với mọi người, mà còn rất thân thuộc, quyến luyến với phong cảnh, từ cây cỏ hoa lá đến hươu nai chim chóc...

Khi Sơn Thánh và Mỵ Nương, theo lệnh của Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.

Trở thành chúa tể 36 bộ châu của miền núi non và trung du, công chúa Thượng Ngàn vẫn luôn luôn chăm chỉ, hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình. Bà bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hòa hợp với nhau, dạy chúng đừng ăn những loài quả độc, nấm độc, biết tránh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ quét...

Bà dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tỉ mỉ. Những gì cha bà đã dạy, bà đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các tù trưởng, bà cũng học thêm ở họ được nhiều điều. Thế là bà lại đem những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãi.

Bà cải tiến và hoàn thiện thêm những gì mà trước kia, ở cha bà mới chỉ là bắt đầu. Làm nhà không những đã chắc chắn, lại còn phải biết chạm trổ cho thật đẹp đẽ. Ở mũi các thuyền độc mộc cũng thế, có khắc cả hình hai đầu rồng chạm hẳn vào nhau. Cách nấu nướng thức ăn, chẳng những chỉ có kho, luộc mà còn chế thêm ra được nhiều món mới. Rồi công việc đồng áng, bà dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước từ khe núi xuống. Lại đi phân phát hạt giống, cho nên nơi nào cũng có cơm dẻo nếp thơm. Trong các con vật nuôi trong nhà, bà đem về thêm nhiều giống gia súc mới. Lại trồng thêm nhiều giống cây ăn quả. Rồi trồng cả những hoa thơm cỏ lạ lấy từ trên rừng núi về...

Lão Tổ còn truyền dạy cho bà đạo pháp tu tiên đắc đạo Hồng Bàng Chân Nhân lại có thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió, và trở thành Nữ Thần luôn luôn gần gũi, gắn bó với cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ. Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm, từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của công chúa Thượng Ngàn.

Đôi khi Mẫu Thượng Ngàn cũng được hiểu chính là người Mẹ của Đức Thánh Tản Viên, theo cách hiểu này thì Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn tại Đền Mẫu Đợi ở làng Dụ Đại xã Đông Hải huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình để tưởng nhớ công ơn của Mẫu Ma Thị Cao Sơn - người mẹ có công ơn nuôi dưỡng Đức Thánh Tản Viên.


Lần thứ 2 bà giáng sinh vào cửa nhà Lệnh tộc nhiều đời làm tù trưởng trên đất Yên Bái. Sau đó nhiều lần bà hiển linh là Cao Quan Đại Vương, dạy dân trồng trọt, làm ăn, lên rẫy làm nương, đi rừng, làm ruộng bậc thang nên được nhân dân suy tôn là Bạch Anh Trưởng Quản Đỉnh Thượng Cao Sơn Thần Nữ Cao Mường Sơn Triều. Sau này bà lại hiển linh giúp vua Lê Thái Tổ dẹp giặc Liễu Thăng nên được gia phong là Lê Mại Đại Vương. Tại đất Đông Cuông bà hiện thân với tên húy là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ của ông Hà Văn Thiên hậu duệ của Hà Đặc, Hà Bổng (trại chủ Quy Hóa) bị hi sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên. Ông bà sinh hạ được một người con trai gọi là Hoàng Báo. Dân lập miếu thờ ông bên Ghềnh Ngai (hữu ngạn sông Hồng) và thờ bà và con trai tại đền Đông Cuông (Đông Quang) bên tả ngạn, đối diện với miếu. Một người mẹ núi Rừng chung chung, đến đây đã được lịch sử hóa, gắn với lai lịch cụ thể của một con người trần thế.

Người ta cho rằng các chiến công quân sự của nhiều triều đại Việt Nam đều có sự phù hộ của bà. Vì thế, các triều đại này, sau khi thắng lợi đều có lễ tạ ơn và có sắc thượng phong cho bà là Thánh Mẫu.

Một truyền thuyết cho rằng hồi đầu thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản Ấm thì quân Minh kéo đến bao vây. Nghĩa quân người ít chống cự không nổi, phải tan tác mỗi người mỗi nơi. Trong đêm tối, Mẫu Thượng Ngàn đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hợp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Nghĩa Lĩnh. Ánh đuốc thiêng của bà, chỉ quân sĩ của Lê Lợi biết được, còn quân Minh không thể nào nhìn thấy. 

Ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của công chúa Thượng Ngàn, quân đội của Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh. lập lại hòa bình cho nước Việt.

Thánh Mẫu Thượng Ngàn, cũng như nhiều vị thần thánh khác, được nhiều người tôn thờ, và chính là hồn thiêng của sông núi, bao nhiêu đời nay dẫn dắt con cháu vững bước đi lên. Bà có mặt ở khắp nơi, theo bước chân của dân chúng, khi ở miền rừng núi rồi xuống miền đồng bằng. Vì vậy, ở nhiều nơi người dân lập đền thờ phụng bà. Tuy nhiên, đại bản doanh của bà vẫn là vùng núi non và các cửa rừng. Những người đi rừng, muốn được bình yên, vạn sự tai qua nạn khỏi, thường đến cầu xin sự che chở, phù trợ của bà. Ai muốn săn bắt hay khai thác thứ gì trong rừng, cũng đặt lễ, thắp hương, cầu xin để được bà chấp thuận. 

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

Văn Chúa Then - Johnny Vũ

Đồng con dâng một chiện nhang
Thỉnh mời Thánh tổ pháp Then giáng về
Quang minh chiếu rạng trời Nam
Anh linh xuất hiện ở miền sơn lâm
Cảnh lâm tùng rừng xanh ngan ngát
Cửa thượng ngàn tụ khí trung linh
Có phen biến tướng hiện hình
Chúa bà giáng thế lập nghề hát then
Chúa mặc áo đen chàm vạt ngắn
Kiềng bạc đem khảm nạm ngọc lam
Lạng Sơn chúa ngự thạch bàn
Tay cầm đàn tính hát vang núi rừng
Tu tiên khí dụng công pháp chỉ
Phép nhiệm màu tà quỷ sợ uy
Sơn tinh voi hổ phục quỳ
Man man cầm thú đều thì phục công
Miền sơn động tay đàn miệng hát
Khí âm dương khúc nhạc điệu then
Danh thơm lừng lẫy lưu truyền
Tiếng đồn vang khắp trong miền Lạng Sơn
Thổ mán mường điều thì cung phục
Nhờ ơn bà cây đức vẻ vang
Thành tâm giữ nghiệp ca đàn
Gọi hồn non nước suối ngàn thủa xưa
Linh tiên khí thần cơ ứng khẩu
Phép nhập hồn tính tẩu ai hay
Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Thường dạo cạnh sơn cùng bích thủy
Chúa băng rừng thăm thú động tiên
Sướng ca một cảnh thiên nhiên
Hai hàng thị nữ khăn miên hầu
Vấn khăn chàm tay đeo vòng bạc
Rẽ đường ngôi mườn mượt tóc mây
Hây hây vành nguyệt vơi đầy
Đáng thanh đáng lịch vẻ đầy khuôn trăng
Dáng tiên chúa cô hằng yểu điệu
Bước khoan thai nhẹ gót lên non
Dù cho nước chảy đá mòn
Thương đồng chẳng quản dù còn bao xa
Chúa về đồng nhà nhà kính phục
Nét hây hây mắt tựa sao xa
Chúa tiên linh ứng hay là
Gảy đàn non nước khúc ca chiêu hồn
Cân đàn then âm dương thấu tỏ
Lai giáng về ngọn cỏ chân mây
Hôm nay tụ họp về đây 
Về nghe câu hát làm tôi chúa bà
Làm tôi chúa đồng gia hưng thịnh
Để cho đời nức tiếng thơm danh
Rồi mai chọn lấy ngày lành
Đàn tràng thiết lập cung nghinh chúa bà

Văn Cô Tám Đồi Chè - Johnny Vũ sáng tác

Xứ Thanh Hoa Đồi Chè Phong Mục
Dòng họ Mường sinh thánh cô tiên

Hình dung duyên dáng thảo hiền

Lưng ong má phấn tóc dài sở vân

Dận hải sảo đầu gài châm dắt

Vai đeo gùi dảo gót lên non

Tiếng thơm y đạo trời ban

Hái chè làm thuốc linh đan cứu người

Bầu tiên dược cứu người dương thế

Khắp bản làng ơn đức tiên cô

Dân thôn lập miếu lên thờ

Nhờ ơn cô Tam cho nhà nhà bình an
Đền thờ cô trăng thanh gió mát
Buổi sớm chiều chướng phủ màn che
Canh khuya cô mới đi về
Hóa cô sơn nữ trên non hái chè
Đêm trăng thanh chiếc thoi độc mộc
Tay thuận chèo sông Mã dạo chơi
Véo von tiếng hát đầy vơi
Nghe mà xao xuyến lòng người hành hương

Muôn dân con lầm rầm khấn nguyện
Cung thình mới cô Tám giáng lâm
Hát mừng một chiện văn ca
Người mường sánh với nước non muôn đời.

Cô Minh Lương

Truyền thuyết kể rằng, vào thời nhà Trần (thế kỷ XV), ở tổng Minh Lương, thuộc xã Lang Quán ngày nay có hai vợ chồng, ông chồng là người Dao, bà vợ là người Mường tuổi đã cao mà chưa có con. Ngày ngày ông bà ra ngòi Lịch xúc tôm tép sống lần hồi. Một hôm, ông ở nhà, bà đi xúc tép như mọi ngày, nhưng xúc mãi không được con gì mà chỉ được hai quả trứng lạ. Bực mình, bà xuống hạ nguồn rồi lên tận thượng nguồn ngòi Lịch xúc vẫn chỉ được hai quả trứng ấy. Bà đành mang về thả vào chum nước dưới cầu thang. Ít lâu sau, bà mang thai và sinh ra một cô bé bụ bẫm, đặt tên là Minh Lương. Cùng lúc đó, hai quả trứng thả trong chum nước dưới cầu thang nở ra hai con rắn. Hai con rắn và cô bé Minh Lương cùng lớn lên, quấn quýt làm bạn với nhau. 
Một buổi chiều, ông bà đi làm về và nhìn thấy hai con rắn quấn chết cô bé. Sẵn con dao rựa đeo bên người, ông tức giận rút dao vừa chém, vừa nói “Mày hại tao à”. Hai con rắn sợ quá chạy trốn, nhưng một con chậm hơn đã bị chém đứt đuôi. Ông đuổi hai con rắn và nói: “Cụt đi hang Mang, Khoang đi hang Đồng”. 

Ông bà xót thương cô bé, không nỡ chôn, nên đặt cô nằm ở trên sàn. Đến sáng đã thấy mối đùn lên đắp mộ cho cô bé. Dân làng thấy vậy đều cho là cô đã linh hoá nên lập miếu thờ. Thời kỳ giặc Cờ đen, cô bé Minh Lương đã hiển linh giúp quan quân triều đình thoát khỏi rừng rậm, sau đó dũng mãnh dẹp sạch giặc Cờ đen. Sau đó Cô còn hiển linh bốc thuốc, giúp dân chữa bệnh thoát cơn hiểm nghèo.

Cô Chín Giếng



Cô Chín Sòng Sơn :Còn gọi là cô Chín Giếng , một tiên cô tài phép , theo hầu Mẫu Sòng , lại có tài xem bói,1000 quẻ cô bói ra thì ko sai một quẻ nào,Cô có phép thần thông quảng đại , ai mà phạm tội cô về tâu với Thiên Đình cho thu giam hồn phách , rồi cô hành cho dở điên dở dại , sau Vua truyền dân lập đền cô ở xứ Thanh , ngay trước đền là chín chiếc giếng tự nhiên do cô cai quản .

Còn có truyền thuyết về cô : Cô là Tiên Nữ hầu Mẫu trong đền Sòng , quản cai chín giếng , cô dạo chơi bốn phương khắp ngả trời Nam , sau về đến đất Thanh Hóa cảnh lạ vô biên , cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát , lấy gỗ cây sung làm nhà ,còn cây si thì cô mắc võng , nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ là Đền Cô Chín ở Thanh Hóa , cách đền Sòng Sơn khoảng 30km.Khi ngự đồng cô mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai , có khi cô máu quạt tiến Mẫu , múa cờ tiến Vua , cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa , rồi lại múa cánh tiên .Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật : Nón đỏ hài hoa vòng hồng để dâng cô đều được cô chứng minh .Ở một số địa phương đều thờ cô và tôn với các danh khác như Cô Chín Rồng , Cô Chín Suối nhưng chính đều là Cô Chín Sòng được thờ phụng

Cô Tám Đồi Chè

Cô Tám Đồi Chè. Có tích nói rằng cô vốn là thiếu nữ người Mường (có tích lại nói cô là người Kinh) ở đất Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hoá. 

Theo một số thuyết nói rằng, Cô Tám là tiên cô giáng thế cùng thời với Cô Bơ Thác Hàn, có huyền tích lịch sử riêng chứ không liên quan gì đến Chầu Bát và cô thuộc Nhạc Phủ chứ không phải thuộc Địa Phủ như mọi người vẫn lầm tưởng. Có một số ý kiến thống nhất rằng, cô giáng sinh dưới thời Lê Thái Tổ dấy binh khởi nghĩa, cô là người thiếu nữ trồng hái búp chè tại vùng Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hoá. Cô cũng có công giúp vua trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm nên khi thác hoá về trời, cô được phong công lập đền thờ, trấn giữ một bên bến song Đò Lèn, Phong Mục. Cô sinh thời là người con gái đảm đang nết na tần tảo, hái búp chè xanh trên đồi thường dung làm thuốc chữa bệnh nên mọi người thường tôn hiệu là Cô Tám Đồi Chè. Khi thanh nhàn, cô thường đủng đỉnh dạo chơi khắp vùng Hà Trung, Thanh Hoá, cũng có khi cô hiện hình bẻ lái con thuyền độc mộc trên dòng sông Mã.

Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Tám Đồi Chè hiếm khi về ngự đồng, chỉ có người nào sát về Cô Tám hoặc khi hầu đón tiệc tháng 6 tại các đền ở vùng Thanh Hoá. Cô Tám Đồi Chè ngự đồng thường mặc áo xanh quầy đen ( có nơi là áo tím hoa cà ) . Cô Tám cũng khai quang sau đó múa mồi, sau đó thường là múa tay tiên các điệu như người đi hái chè trên non. Hiện nay đền thờ Cô Tám Đồi Chè được thờ riêng tại đền cô thuộc đất Phong Mục, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, nếu đi từ đền Cô Bơ sang thì qua đò Lèn, đền cô rất khang trang nhưng ít người biết tới.

Cô Bảy Kim Giao

Cô Bảy Kim Giao. Cô vốn cũng là một tiên cô người dân tộc Mọi ở đấy Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên. Theo một số tích nói rằng cô cũng là người kề cận bên Chầu Bảy nên cũng được gọi là Cô Bảy Kim Giao hay còn có hiệu khác là Cô Bảy Tân La ( khi cô được theo hầu cận Chầu Bảy tại đền Tân La). Tương truyền rằng cô cũng là vị thánh cô có công giúp người dân Mọi biết trồng trọt chăn nuôi rồi cô cũng có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Vậy theo một số tài liệu thì chính xác Cô Bảy là Cô Bảy Kim Giao hay Cô Bảy Tân La (theo hầu Chầu Bảy Kim Giao) chứ không phải là Cô Bảy Tân An (theo hầu Ông Bảy Bảo Hà ) như một số người vẫn nói. Còn có sự tích nói rằng, đêm đêm cô thường hội họp cùng các bạn tiên nàng, mắc võng đào giữa hai cây kim giao rồi cùng đàn hát.
Trong hội đồng Thánh Cô, Cô Bảy Kim Giao là một trong số các cô ít khi ngự đồng nếu không nói là hầu như không thấy. Vậy nên nếu để nói đến y phục và cung cách hầu giá Cô Bảy là rất khó, theo phỏng đoán của người viết thì có thể giá Cô Bảy Kim Giao mặc áo tím hoặc chàm xanh, cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay, Cô Bảy vẫn được thờ làm cô bản đền tại chính cung Đền Kim Giao (Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên) và còn cả tại đền Tân La ( Dốc Lã, Bảo Khê, Hưng Yên). Khi hầu tráng mạn đến giá Cô Bảy Kim Giao, văn thường hát rằng:
“Thỉnh mời Cô Bảy Kim Giao
Đêm đêm cô mắc võng đào hòa ca
Đền thờ rừng núi bao xa
Đầu non thác đổ xa xa hổ gầm…”
Hay khi nói đến tích cô được thờ tại Tân La cũng có văn rằng:
“Thỉnh mời Cô Bảy Tiên La
Đêm ngày hầu cận bơ tòa Mẫu Vương…”

Cô Sáu


Cô cũng vốn là thánh cô nguyên tích là người Nùng ở đất Hữu Lũng, Lạng Sơn. Có thuyết thì nói rằng Cô Sáu là tiên cô kề cận bên cửa Chúa Thượng Ngàn ở đất Trang Châu (chưa xác định rõ), còn lại đa phần đều thống nhất rằng Cô Sáu là người kề cận Chầu Lục Cung Nương nên cô mới được gọi là Cô Sáu Lục Cung hay còn có danh khác là Cô Sáu Sơn Trang. Khi nhân dân lập đền thờ phụng Chầu Bà, vẫn thỉnh Cô Sáu là cô trấn bản đền Lục Cung. Ngoài ra, theo một số tích cũ kể lại, Cô Sáu Lục Cung sinh thời là người con gái xinh đẹp nết na, lại có tài chữa bệnh, cô thường đi khắp rừng sâu núi thẳm để hái thuốc cứu người vậy nên khi hiển thánh, Cô Sáu vẫn thường được muôn dân tôn là tiên cô có tài chữa bệnh cứu người, dân chúng khắp nơi về cửa cô để xin thuốc tiên trị bệnh. Cô Sáu Sơn Trang cũng nổi tiếng đành hanh trên đời, nghiêm khắc trừng trị kẻ nào nhạo báng cửa cô.

Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Sáu Lục Cung rất hay về ngự đồng. Các thanh đồng đạo quan thường thỉnh bóng Cô Sáu Sơn Trang ngự đồng không chỉ có khi về đền Lục Cung, về đất Lạng Sơn mà cả khi khai đàn mở phủ hay trong cả những dịp hầu vui, đón tiệc tiên thánh. Cô Sáu ngự đồng thường mặc áo lam hoặc áo tím chàm (ngắn vạt rộng tay). Cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi như các tiên cô trên Thượng Ngàn khác. Hiện nay Cô Sáu Lục Cung chính là thánh cô trấn giữ bản đền Lục Cung Chín Tư, cung thờ cô được xây ngay cạnh chính cung đền Chầu Lục Cung Nương (Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn). 

Cô Năm Suối Lân

Cô Năm Suối Lân vốn là tiên nữ trên trời, theo lệnh cô giáng trần là người thiếu nữ dân tộc Nùng ở xứ Lạng. Có tích lại kể rằng Cô Năm là người thị nữ thân cận bên Chầu Năm Suối Lân ( lúc sinh thời khi chầu còn là công chúa) nên cô cũng được tôn hiệu là Cô Năm Suối Lân hay Cô Năm Sông Hoá. Sau này được sắc phong hiển thánh, Cô Năm vẫn được coi là tiên cô kề cận bên cửa Chầu Năm, cô được coi là tiên cô trông giữ bản đền Suối Lân. Ngoài ra cô còn được coi là vị thánh trấn tại cửa rừng Suối Lân (cung rừng này một cửa vào là cửa Suối Lân do Cô Năm Suối Lân trấn giữ, cửa ra là cửa Thất Khê do Cô Bé Đèo Kẻng trấn giữ), vậy nên, ai đi chiêm bái trên đất Lạng đều phải qua bái yết cửa Chầu Năm và Cô Năm Suối Lân. Dòng Suối Lân do Cô Năm cai quản bốn mùa trong xanh, nước thông về sông Hoá, tương truyền rằng đây là dòng suối thiêng của cô, nước suối xanh mát bốn mùa không bao giờ cạn, nếu ai có bệnh tật đến xin nước suối cửa cô, uống vào sẽ thuyên giảm, nhược bằng, người nào không biết mà xuống suối tắm hay rửa chân tay, làm ô uế dòng suối của cô sẽ bị cô hành cho sốt nóng mê sảng. Phép anh linh của Cô Năm Suối Lân còn được biết qua việc nếu có kẻ nào báng nhạo cô sẽ “xát lá han” làm cho kẻ đó luôn ngứa ngáy không yên, rồi cô cho đi lạc đường rừng.
Trong hàng thánh cô, thường thấy Cô Năm Suối Lân ít khi ngự đồng hơn Cô Sáu Lục Cung, thường chỉ người nào có sát căn quả về cửa Cô Năm hoặc khi về đền Suối Lân thì có thấy thỉnh bóng Cô Năm ngự đồng. Khi hầu về giá Cô Năm Suối Lân, thường người ta mặc xiêm y như màu áo của Chầu Năm (nhưng là áo ngắn vạt), đó có thể là màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá cây, cô chít khăn củ ấu, bên mình có túi vóc, dao quai. Ngự đồng cô khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay Cô Năm Suối Lân được phụng thờ là thánh cô trấn giữ cửa Suối Lân Sông Hoá, cung thờ cô được đặt cạnh ngay đền chính của cửa Chầu Năm Suối Lân (huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn). 

Cô Tứ Ỷ La

Cô Tư Ỷ La cũng vốn là con vua Đế Thích chính cung. Theo lệnh vua cha, cô theo hầu Mẫu Thượng Ngàn tại đất Tuyên Quang. Về sau, nơi Mẫu giá ngự đó, người ta lập đền Mẫu Ỷ La nên cô cũng được gọi là Cô Tư Ỷ La. Tương truyền rằng, Mẫu bà rất yêu quý, thường cho Cô Tư kề cận bên mình. Vậy nên đúng như các tư liệu ghi lại thì chính xác là Cô Tư hầu cận Mẫu Thượng Ngàn chứ không phải cô hầu cận Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai như chúng ta vẫn thường nghĩ. Ngoài ra Cô Tư còn có một danh hiệu khác là Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ. Qua ước đoán, có thể suy ra rằng danh hiệu này là do Cô Tư đã từng giáng hiện tại đất Tây Hồ, Hà Nội rong chơi, và điển hình nhất là hiện nay vẫn có ban thờ Cô Tư tại đình Tứ Liên; một ngôi đình cổ nằm ở gần Phủ Tây Hồ, Hà Nội. 
Trong hàng Tứ Phủ Tiên Cô, Cô Tư Ỷ La thường hiếm khi thấy ngự về đồng nên nếu nói về y phục cũng như cung cách khi hầu giá Cô Tư hiện giờ là rất khó. Tuy nhiên theo phỏng đoán của người viết thì có thể khi hầu giá Cô Tư Ỷ La thường mặc xiêm áo màu vàng nhạt, cô có thể khai cuông và múa mồi hầu Mẫu (đây chỉ là ý kiến cá nhân đưa ra để mọi người tham khảo). Hiện nay Cô Tư vẫn được coi là thờ chính cung hầu Mẫu Thượng Ngàn trong đền Mẫu Ỷ La thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, như đã nói ở trên, Cô Tư còn được thờ vọng trong Đình Tứ Liên ( xưa gọi là Đình làng Ngoại Châu), phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Khi các thanh đồng hầu tráng mạn đến giá Cô Tư, người ta thường thỉnh rằng:
“Thỉnh mời Cô Tư Ỷ La
Nguyên xưa hầu cận Vua Bà tỉnh Tuyên…”
Hay có một câu thỉnh gắn liền với sự tích Cô Tư dạo chơi Tây Hồ, người ta cũng thường hát:
“Ai về Tứ Tổng Tây Hồ 
Hỏi thăm cho tới đền thờ Cô Tư…”

Cô Bơ Thoải



Cô Bơ Thoải Cung. Cô vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công Chúa, giá ngự vào ra trong Cung Quảng Hàn. Có người còn nói rằng, Cô Bơ là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm. Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai. Đến ngày 8/2 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kì vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban. Cô lớn lên trở thành người thiếu nữ xinh đẹp, tưởng như ví với các bậc tài nữ từ ngàn xưa, lại giỏi văn thơ đàn hát. Đến khi cô vừa độ trăng tròn thì cũng là lúc nước nhà phải chịu ách đô hộ của giặc Minh, cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc” sau này). Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh. Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn. Đền cô là nơi thắng cảnh “trên bến dưới thuyền”, nơi giao của Ngũ huyện kê: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe” cũng với danh tiếng anh linh của tiên cô nên khách thập phương đến chiêm bái, cầu xin nhân duyên, khoa cử, làm ăn rất đông đúc. Thuyền bè dưới bến sông qua lại đều phải đốt vàng mã kêu cô, rồi những người đến kêu cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm, võng lụa thuyền rồng.

Cô Đôi Thượng Ngàn

Cô Đôi Thượng Ngàn. Cô vốn là con Vua Đế Thích trên Thiên Cung, được phong là Sơn Tinh Công Chúa, ra vào hầu cận bơ tòa Vua Mẫu trong điện ngọc, nơi tiên cảnh. Sau cô giáng sinh xuống đất Ninh Bình làm con gái nhà một chúa đất ở chốn sơn lâm, khi hạ sinh, Cô Đôi rất xinh đẹp: da trắng, tóc xanh mượt mà, mặt tròn, lưng ong thon thả. Sau này cô quyết chí đi theo hầu Đức Diệu Tín Thuyền Sư Lê Mại Đại Vương (chính là Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang) học đạo phép để giúp dân. Rồi khi về thiên, cô được theo hầu cận ngay bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông Tuần Quán được Mẫu Bà truyền cho vạn phép, giao cho cô dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ (nên có khi còn gọi là Cô Đôi Đông Cuông), cũng có người cho rằng cô về theo hầu cận Chầu Đệ Nhị. Lúc thanh nhàn cô về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà, trong ba gian đền mát, cô cùng các bạn tiên nàng ca hát vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò, có khi cô biến hiện ra người thiếu nữ xinh đẹp, luận đàm văn thơ cùng các bậc danh sĩ, tương truyền cô cũng rất giỏi văn thơ, làm biết bao kẻ phải mến phục. Cô Đôi cũng là tiên cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang, người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, nhược bằng có nợ mà không mau trả lễ cô lại bắt đền nặng hơn. Cô Đôi Thượng rất hay ngự về đồng, vì danh tiếng cô lừng lẫy ai ai cũng biết đến, đệ tử cô đông vô số và cô cũng hay bắt đồng. Trong đại lễ khai đàn mở phủ người ta thường dâng lễ vàng cây lên 5 tiên cô là Cô Đôi, Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín và Cô Bé, trong đó Cô Đôi thường là giá cô ngự về đầu tiên (mở khăn cho hàng cô) để chứng lễ. Khi cô về ngự thường mặc áo lá xanh hoặc quầy đen và áo xanh (ngắn đến hông), trên đầu có dùng khăn (khăn von hoặc khăn vấn) kết thành hình đóa hoa, cũng có một số nơi dâng cô áo xanh, đội khăn đóng (khăn vành dây) và thắt lét xanh, hai bên có cài hai đóa hoa. Cô về đồng thường khai cuông rồi múa mồi, múa tay tiên hái tài hái lộc cho đồng tử. Vì Cô Đôi Thượng hầu cận bên Mẫu Đông Cuông nên đền cô cũng được lập gần Đền Đông Cuông, trong đền thờ Cô Đôi và Cô Bé Đông Cuông, cách đền chính khoảng 500m, trước cửa đền có giếng nước quanh năm trong mát. Nhưng chính đền của cô lại là Đền Cô Đôi Thượng Ngàn tại xã Nho Quan, Ninh Bình (qua rừng quốc gia Cúc Phương) thuộc làng Bồng Lai

Cô Cả Thượng Thiên

Cô Nhất Thượng Thiên. Cô cũng vốn là con Vua Cha dưới Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thiên Cung Công Chúa trên Thiên Đình. Có người nói rằng cô cũng với Cô Chín hầu cận bên cạnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên (tức Mẫu Liễu Hạnh) lại có nơi quan niệm cô là Tiên Cô kề cận, tay biên tay chép kề bên Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (tuy nhiên do có quan niệm là Mẫu Đệ Nhất cũng chính là chầu cho nên hai ý kiến này hầu như là thống nhất với nhau). Cô giá ngự trong cung tòa, cận bên Mẫu cho nên khi đến các đền phủ người ta thường có lời tấu để cô kêu thay lạy đỡ trước cửa Vua Mẫu Đình Thần Tứ Phủ. Khi thanh nhàn cô cưỡi gió cưỡi mây rong chơi khắp chốn, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa cho đến tận Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Định... Cô là tiên cô thần thông lục trí, cô chấm đồng người nết na thảo hiền rồi đem về tiến Mẫu trong Đền Sòng Sơn. Cô Nhất khá ít khi ngự đồng, chỉ những người sát căn cô mới hay hầu cô hoặc trong các dịp khai đàn mở phủ Cô Nhất về chứng đồng tân lính mới. Khi ngự về Cô Nhất mặc áo màu đỏ (áo gấm hoặc áo lụa thêu phượng), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây), thắt khăn và vỉ lét đỏ. Cô làm lễ khai cuông rồi múa quạt. Cô Nhất thường được thờ vào ban Tứ Phủ Thánh Cô ở trong các bản đền. Cũng có một số người nói rằng có đền cô là Đền Cô Nhất ở trong đất Nghệ An giáp Thanh Hóa với món đặc sản bánh ngào.


Văn Cô Nhất
Hương đưa nhang xa ngát mùi
Thỉnh mời cô Nhất về chơi Nam thành
Hải Phòng Hà Nội Bắc Ninh
Nội thành ngoại phố một mình rong chơi
Chơi thôi cô lại tái hồi
Nghệ An ,Hà Tĩnh là nơi đi về
Có phen chơi sông Bồ Đề
Lên chùa Hương Tích ra về thành Nam
Vân Hương Thiên Bản là làng
Nhận đồng chấm lính trần gian khắp miền
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà
Bình Định, Gia Định bao xa
Khi chơi Ba Dôi lúc ra Chiêm Thành
Dạo chơi các tỉnh nức danh
Trở về tới đất tỉnh Thanh ngự đồng
Nhận đồng má phấn lưng ong
Cô Nhất chấm đồng tiến Mẫu Sòng Sơn
Phép cô lục trí ai hơn
Quyền cô cai quản giang sơn thủy tề
Khăn đào áo thắm phủ che
Khi chơi Phong Mục,Đồi Chè,Ba Bông
Khi chơi dạo cảnh Đền Rồng
Lúc về Phủ Bóng, Công Đồng ,Tiên Hương
Kinh đô cảnh đẹp lạ nhường
Cô đà dạo khắp bốn phương xa gần
Tiên cô xuất thánh nhập thần
Thay Quyền vương Mẫu cầm cân cõi phàm
Thỉnh cô trắc giáng đàn tràng
Khuông phù đệ tử an khang thọ trường

Hoàng Mười


Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An.

Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).

Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương). Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy, người ta cũng thường dâng tờ tiền 10.000đ màu đỏ vàng để làm lá cờ, cài lên đầu ông. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.

Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách ... để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.